Hỗ trợ trực tuyến

0989837029

Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ các ngành công nghệ cao

 Có chính sách khuyến khích và giúp đỡ thiết thực cho doanh nghiệp Việt tham gia phát triển theo chuỗi giá trị; trước hết là cải tiến, đổi mới doanh nghiệp bằng cách tư vấn chỉ việc để doanh nghiệp chuyển động; có biện pháp thúc đẩy nhận thức và sự đồng thuận đổi mới doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập.

  Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) gần đây được bàn đến như một vấn đề có tính thời sự trong lĩnh vực phát triển công nghiệp Việt Nam. Ở cấp Quốc gia thì chủ trương thúc đẩy CNHT "hình như " để bù lấp khoảng trống của quy hoạch công nghiệp từ lâu không được nhìn nhận một cách nghiêm túc và khoa học; một thời gian dài, chúng ta vẫn còn quy hoạch sản phẩm công nghiệp chủ yếu, đây là tư duy thời kỳ bao cấp, cho nên hầu hết các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp khi thẩm định cấp phép chưa lấy tiêu chí giá trị sử dụng thay thế và chưa đặt hiệu quả kinh tế vào chuỗi giá trị để xem xét. Sau khi gia nhập WTO, tiếp cận với một số dự án FDI có thương hiệu lớn thì khái niệm sản xuất theo chuỗi giá trị mới được nhận thức ngày càng rõ hơn. Do đó, CNHT mới được đề cập chính thức trong các văn bản của Đảng, trong các chính sách của Chính phủ. Tuy nhiên,cho đến nay CNHT vẫn chưa được giải quyết một cách thấu đáo, còn mang tính ứng phó với yêu cầu của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Có địa phương coi CNHT là đối tượng để thu hút đầu tư, có nơi lấy đó là giải pháp cân bằng cơ cấu ngành công nghiệp, có nơi hưởng ứng chủ trương của TW... Chưa nhận thức đầy đủ CNHT là một bước đi, một nấc thang cần thiết của quá trình CNH, HĐH. Vì vậy, để cụ thể hoá chủ trương đẩy mạnh phát triển CNHT theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã thông qua, cần được cụ thể hoá phù hợp với năng lực nội sinh của công nghiệp Việt Nam nói chung và của từng vùng, địa phương nói riêng.

    ​Đối với Bắc Ninh, ngay từ khi tái lập tỉnh, chủ trương CNH, HĐH được cụ thể bằng định hướng phát triển công nghiệp theo phương thức khá độc đáo: Khôi phục, đẩy mạnh phát triển làng nghề, đưa sản xuất tiểu thủ công nghiệp ra khỏi nhà ở; tạo lập hạ tầng thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; cụm công nghiệp và làng nghề tranh thủ phát triển trước, tạo đà, tạo hình ảnh để thu hút đầu tư vào khu công nghiệp. Vì vậy, từ 1997 - 2005 là giai đoạn các cụm công nghiệp, làng nghề phát triển nở rộ với nhiều mô hình quản lý và quy mô đa dạng. Từ 2000 - 2005 là giai đoạn các khu công nghiệp vừa tạo lập hạ tầng, vừa hình thành chính sách thu hút đầu tư, tập trung vào các doanh nghiệp có năng lực lớn. Đến nay, công nghiệp Bắc Ninh đã thu được những kết quả đáng mừng, tạo ra sức bật cho phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao,kinh tế đã chuyển hẳn sang công nghiệp chiếm tỷ trọng 74,3% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Kết quả đó phản ánh quyết tâm chính trị của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, tập trung sức lực và trí tuệ cho công nghiệp. Tuy nhiên,công nghiệp gì? Phát triển ra sao? Tham gia vào phân khúc nào của thị trường trong nước cũng như khu vực? Ngay từ đầu còn loay hoay chưa định rõ.

  ​Từ khi dự án của Canon, Samsung vận hành, động dụng (năm 2010), đã nhận thức được nếu không có CNHT thì không tiếp thu có hiệu quả tác dụng lan tỏa, và phát triển bền vững. Bắc Ninh cũng như các tỉnh lân cận trong thời kỳ ban đầu chủ yếu là thu hút đa ngành công nghiệp, đa dạng loại hình sản xuất từ thủ công, bán cơ giới trong các làng nghề, cụm công nghiệp và công nghệ khá hơn trong các khu công nghiệp, với mục tiêu chủ yếu là giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. May mắn cho Bắc Ninh, các dự án đầu tư của các công ty Samsung, Canon, Foxconn, Microsoft và các doanh nghiệp vệ tinh, các nhà cung cấp FDI... đã "phôi thai" ngành công nghiệp điện tử, tuy còn trong giai đoạn lắp ráp là chủ yếu, nhưng các dự án đều là công nghiệp công nghệ cao. Xuất phát từ đó, Bắc Ninh đã điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp, từ chỗ hoạch định khuôn mẫu tám ngành chủ yếu sang tập trung xoay quanh ngành Điện - điện tử; cơ khí chính xác; chế biến nông sản sản phẩm cuối cùng là ngành có điều kiện tiếp thu ứng dụng công nghệ tiên tiến và phát triển theo chuỗi giá trị. Bổ sung cho quy hoạch đó là quy hoạch công nghiệp hỗ trợ nhằm hoạch định chính sách cụ thể khuyến khích doanh nghiệp đầu tư làm nhà cung cấp cho ba ngành công nghiệp cơ bản nói trên. Như vậy, định hướng ưu tiên ba ngành công nghiệp cơ bản là bước cụ thể hoá chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ cao, tạo lập công nghiệp mũi nhọn của tỉnh; được nhận thức từ thực tiễn công tác chỉ đạo và thực thi nhiệm vụ phát triển công nghiệp.

   ​Về CNHT, chủ yếu được hình thành và phát triển khá nhanh kể từ khi dự án của công ty Samsung thực hiện (năm 2008). Tính đến hết năm 2012, Bắc Ninh có 126 doanh nghiệp CNHT, đóng góp 14,6% giá trị sản xuất công nghiệp, đến năm 2016 có 430 doanh nghiệp CNHT, tạo ra khoảng 29% giá trị sản xuất công nghiệp, trong đó có 162 doanh nghiệp trong ngành điện, điện tử. Trước sự đòi hỏi của các công ty lắp ráp trong ngành công nghiệp, Bắc Ninh tiến hành quy hoạch định hướng phát triển CNHT đến năm 2020 và 2030 tại QĐ số 229/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND tỉnh là hướng vào công nghệ cao, với mục tiêu cụ thể như sau: Đến năm 2020, phấn đấu nắm vững các công nghệ mới chủ yếu từ các doanh nghiệp FDI đã đầu tư trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ doanh nghiệp DDI tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng linh kiện, phụ tùng, vật tư, bao bì... cho các doanh nghiệp lắp ráp; sản xuất một số nguyên, vật liệu đầu vào; sản xuất và lắp ráp khuôn mẫu cho các chi tiết nhựa, nhôm, kim loại chuyên dùng. Từ năm 2020 - 2030: Phát triển nhanh số các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ và bước đầu tham gia cải tiến, thiết kế triển khai chi tiết linh kiện, sản phẩm. Giải pháp tổng thể quy hoạch đã đề xuất hai nhóm giải pháp cơ bản để thúc đẩy CNHT là: Nhóm giải pháp tạo bước đột phá phát triển CNHT bao gồm thiết lập đầu mối và tổ chức hạ tầng khu, cụm công nghiệp để đáp ứng cho tất cả các doanh nghiệp có quy mô khác nhau; nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và cải cách thủ tục hành chính. Để thúc đẩy nhanh CNHT, cần các giải pháp để tạo ra bước đột phá, tạo lập công nghiệp mũi nhọn công nghệ cao theo định hướng của phát triển của tỉnh:

1. Hoạt động thu hút đầu tư

​Ưu tiên, phân bố các dự án ở ba ngành trọng điểm tương đối hợp lý, theo hướng mỗi khu công nghiệp ít nhất có 2 - 3 dự án quy mô đầu tư vốn lớn, doanh nghiệp có thương hiệu cao để tạo sức lan tỏa và lôi kéo các doanh nghiệp vệ tinh. Trong lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác chủ yếu thu hút đầu tư các dự án FDI ; lĩnh vực chế biến nông sản, đồ uống, thực phẩm tập trung vào dự án vốn DDI. Thực tiễn các khu công nghiệp của tỉnh đã làm được như vậy. Bên cạnh các dự án của công ty Samsung, Canon, Microsoft, Foxconn...và các vệ tinh FDI đã quần tụ tại các KCN Yên Phong, Quế Võ, VSIP; thì các dự án của Công ty sữa Vinamil,VinaSoy, Dabaco, Halico... phân bổ vào các KCN Tiên Sơn, Đại Đồng -Hoàn Sơn; các dự án cơ khí, cơ điện tại các KCN Tiên Sơn, Thuận Thành, Quế Võ, Đại Đồng - Hoàn Sơn. Đã tạo ra hình ảnh và thương hiệu cho từng KCN, thuận lợi cho các doanh nghiệp tìm bạn hàng và hợp tác, liên kết trong sản xuất và đổi mới sản phẩm. Sự phân công đó sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới nhằm hướng đến KCN chuyên ngành thuận lợi cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiên tiến xử lý môi trường và thiết lập hệ thống quan trắc theo dõi, đánh giá môi trường.Vì vậy, trong đầu tư xây dựng hạ tầng được điều chỉnh xây dựng cụm CNHT trong khu công nghiệp; một số cụm công nghiệp tại các huyện được xây dựng theo tiêu chí tiếp nhận doanh nghiệp CNHT quy mô nhỏ và vừa là doanh nghiệp trong nước, những doanh nghiệp này vừa là nhà sản xuất chi tiết,vừa truyền tải việc làm, cấy nghề mới vào khu vực dân cư nông thôn và làng nghề. Cụm công nghiệp Hạp Lĩnh, chủ yếu là nhà máy chế biến thức ăn gia súc Dabaco, các doanh nghiệp hỗ trợ điện tử, cơ khí và bao bì; cụm Đông Thọ sản xuất và lắp ráp linh kiện, bảng mạch điện tử, cụm Đại Bái sản xuất đồ đồng, nay có doanh nghiệp đã chuyển sang gia công các chi tiết, phụ tùng từ đồng...

2. Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam làm CNHT

​Samsung có cam kết hỗ trợ doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung cấp trong chuỗi giá trị sản xuất. Tuy nhiên, để trở thành nhà cung cấp chính thức, doanh nghiệp phải trải qua các khâu đánh giá theo 8 tiêu chuẩn cơ bản (công nghệ, chất lượng, trách nhiệm, giao hàng, giá cả, môi trường, tài chính, pháp luật), xuyên suốt là khả năng đáp ứng một cách linh hoạt yêu cầu cung cấp sản phẩm theo đơn hàng. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt phải cải tiến, đổi mới. Tỉnh đã đồng ý và giao cho Sở Công Thương tham mưu lồng ghép vào hoạt động khuyến công để kết nối doanh nghiệp Việt với Samsung và các Vendor của Samsung, trong năm 2016 đã phối hợp với Samsung tư vấn cải tiến doanh nghiệp, đã thực hiện thành công tại các công ty Godlsun, Thăng Long, An Lập, những công ty này đã trở thành nhà cung cấp cho Samsung Electronics Việt Nam (SEV); trong kế hoạch năm 2017 sẽ hỗ trợ cải tiến từ 3 - 4 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh, đồng thời động viên các doanh nghiệp đã được Samsung tiếp nhận là nhà cung cấp tham gia giúp đỡ các doanh nghiệp Việt ở các địa phương khác thực hiện tự cải tiến. Hiện nay, Samsung vẫn tích cực tìm kiếm đối tác doanh nghiệp Việt, phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức hội thảo, giới thiệu nhu cầu, tư vấn hỗ trợ... nhưng chuyển biến từ doanh nghiệp Việt là chưa tích cực, rất cần sự hỗ trợ và thúc đẩy bằng chính sách cụ thể hơn từ Chính phủ và cấp chính quyền địa phương.

 ​Do vậy, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp Việt tham gia vào CNHT tại Bắc Ninh cần được thực hiện như sau:

  ​Thứ nhất, thông qua Chương trình khuyến công, hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ đào tạo tuyển dụng lao động, tuyên truyền nội dung cải tiến doanh nghiệp để tham gia hội nhập (nội dung này cần được biên soạn phù hợp và thiết thực).

Thứ hai, cử chuyên gia trợ giúp đánh giá doanh nghiệp để xác định nội dung cải tiến doanh nghiệp, trước hết lấy các tiêu chuẩn của Samsung làm tiêu chuẩn cơ bản và hỗ trợ cho hoạt động cải tiến; việc thực hành cải tiến không phải chỉ nhằm mục tiêu làm vệ tinh cho Samsung mà là nâng cao năng lực hội nhập cho doanh nghiệp Việt.

Thứ ba, giới thiệu và kết nối các doanh nghiệp để hợp tác, trở thành nhà cung cấp của nhau.

Thứ tư, giao nhiệm vụ cho Trung tâm Khuyến công và Tư vấn Phát triển Công nghiệp của Tỉnh thực hiện theo Chương trình khuyến công hàng năm và thực hiện các chương trình kết nối doanh nghiệp.

3. Hoàn thiện định hướng phát triển

​Để có lực lượng các doanh nghiệp CNHT đông đảo, cần có chiến lược phát triển công nghiệp hợp lý và khoa học; các bước đi tắt đón đầu công nghệ không thể hiểu một cách "cơ học" thuần tuý được. Có thể thấy quá trình CNH, HĐH đối với Bắc Ninh đã có bước đi theo một trình tự như sau:

​+ Giai đoạn đầu (từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2005), là giai đoạn giải phóng sức sản xuất trong các làng nghề TTCN, tạo lập cơ sở hạ tầng để tiếp thu và hấp thụ các dự án công nghiệp lớn từ các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, giai đoạn này có nhiều chính sách thu hút đầu tư, điển hình là Quyết định 60 của UBND tỉnh, nhờ đó nhiều cụm, điểm công nghiệp ra đời, nhiều hộ tư nhân thành lập công ty để được thuê đất xây dựng nhà xưởng, di chuyển ra khỏi khu dân cư, tiếp nhận nhiều doanh nghiệp di dời từ Hà Nội đến đầu tư (giai đoạn này gọi là phát triển đa ngành, đa dạng đầu tư).

​+ Giai đoạn (2005 - 2010): xúc tiến đầu tư nước ngoài, ban đầu công nghiệp với tính chất lắp ráp là chủ yếu (Canon, SEV, Nokia...); sau đó kéo theo là các Vendor - FDI là các nhà cung cấp chính, sản xuất trong nước với giá nhân công rẻ để thay thế nhập khẩu linh kiện (giai đoạn có sự chọn lọc, đa ngành theo tiêu chí công nghệ cao, môi trường sạch).

​+ Giai đoạn (2010 - 2015): duy trì, phát triển mở rộng các dự án FDI, hoàn thiện bổ sung kết cấu hạ tầng và phát triển hạ tầng xã hội, phát triển đội ngũ doanh nghiệp trong nước làm CNHT để giữ chân các nhà đầu tư lớn. Đã có nhiều cuộc hội thảo (trong đó có cuộc cùng với Báo Nhân dân tổ chức năm 2013 về vấn đề này), có thể thấy đây là giai đoạn hướng tới công nghiệp trọng điểm, tạo mũi nhọn.

​+ Giai đoạn 2016 và năm tiếp theo: Giai đoạn công nghệ cao, thân thiện môi trường, hoạch định chiến lược tiếp nhận và hấp thụ tác động lan tỏa, biến ảnh hưởng "ngoại lực" thành năng lực "nội". Vì vậy, trong năm 2016, tỉnh đã đưa vào chương trình công tác để lắng nghe và quyết đáp chính sách hỗ trợ, ưu đãi doanh nghiệp trong nước đến Bắc Ninh đầu tư vào CNHT theo định hướng tập trung vào ba ngành công nghiệp trọng điểm của tỉnh.

Như vậy, có thể mô tả quá trình phát triển CNHT của Bắc Ninh được tiến hành theo trình tự 4 nấc thang:

Nấc 1 - công nghiệp lắp ráp, quản trị là người nước ngoài, Tỉnh hỗ trợ lao động phổ thông.

​Nấc 2 - doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá trị với tư cách là nhà cung cấp, tiếp nhận công nghệ nước ngoài, quản trị có sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài, lao động được hỗ trợ đào tạo tại chỗ, tham gia thiết kế triển khai chi tiết sản phẩm trong sản xuất.

​Nấc 3 - chủ động công nghệ, chủ động công tác quản trị và thiết kế chi tiết sản phẩm.

​Nấc 4 - thiết kế sản phẩm thương hiệu Việt.

​Hiện nay, Bắc Ninh đang thực hiện nấc thang thứ 2, hy vọng bước đi trên là đúng thì có thể sẽ tìm ra được cách rút ngắn, đi tắt đón đầu để tiến nhanh đến các nấc thang tiếp theo nếu được sự ủng hộ và hỗ trợ từ các nhà khoa học và tạo điều kiện từ Chính phủ và các cơ quan TW.

4. Tổ chức hệ thống thực thi các hoạt động, hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển CNHT

 ​Để thu hút đầu tư phát triển CNHT theo phương thức kết hợp tiếp nhận dự án FDI với khuyến khích thành lập mới, cải tiến doanh nghiệp Việt tham gia vào CNHT; trước hết phải điều chỉnh, bổ sung hệ thống hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Qua thực hiện thành công cụm 50 ha trong KCN Quế Võ có thể thấy sự cần thiết phải hình thành nên các cụm CNHT để nâng cao hiệu quả đầu tư, vấn đề ở đây là các dự án CNHT phần lớn có quy mô đầu tư nhỏ, nếu để các doanh nghiệp phân bố rải rác thì nguồn lực bị phân tán và chi phí đầu vào sẽ tăng cao. Một số doanh nghiệp có công nghệ, bí quyết gia công, xử lý tốt yêu cầu kỹ thuật, kích thước, hình dạng... các chi tiết linh kiện nhỏ và siêu nhỏ thì lại không cần diện tích nhà xưởng lớn hoặc không có vốn thuê đất xây dựng nhà xưởng. Vì vậy, mô hình tổ chức hạ tầng KCN, trong đó có cụm CNHT phục vụ nhu cầu của một số doanh nghiệp lắp ráp lớn là hợp lý. Có thể chuyển một số cụm công nghiệp chức năng đa ngành ở cấp huyện sang CNHT theo từng chuyên ngành, để hỗ trợ hoạt động các doanh nghiệp trong các cụm đó cần có "Toà nhà kỹ thuật cao" đầu tư theo hình thức kinh doanh dịch vụ để giúp các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động thí nghiệm, kiểm định, sản xuất thử, ứng dụng cải tiến sản phẩm...

​Phối hợp các hành động, cần có cơ quan đầu mối làm chức năng tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ thủ tục pháp lý, thủ tục hành chính... các hoạt động thúc đẩy CNHT. Đối với tỉnh Bắc Ninh có thể giao cho Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp đảm nhận. Trung tâm thực hiện tư vấn tham mưu biên soạn tổng hợp các chính sách của TW hiện hành áp dụng cho các dự án CNHT, đồng thời cùng các ngành tham mưu điều chỉnh, bổ sung chính sách theo thẩm quyền, trong đó có ưu tiên doanh nghiệp trong nước, không phân biệt vốn lớn, nhỏ.

5. Kiến nghị

​- Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi quy định thủ tục xác nhận đối với các dự án CNHT theo hướng giao quyền cho Tỉnh thẩm định cùng với việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và xác nhận các ưu đãi khác; Bộ chỉ nên xác nhận những dự án thuộc thẩm quyền của Thủ tướng hoặc Bộ KH&ĐT; xem xét bổ sung các Chương trình, đề án và bố trí kinh phí từ ngân sách cho nội dung hỗ trợ công tác tập huấn cải tiến và đổi mới doanh nghiệp Việt tham gia CNHT.

​- Trong các khu công nghiệp tập trung, nếu lập ra cụm công nghiệp hỗ trợ thì các dự án CNHT đó được hưởng mức ưu đãi cao nhất áp dụng cho khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp hỗ trợ do doanh nghiệp lựa chọn.

 ​Qua phần trình bày trên, thấy rằng:

 Thứ nhất, cần thiết phải quan tâm đẩy nhanh phát triển CNHT một cách thiết thực và có hiệu quả, vì vậy cần có sự định hướng và phân công từ quy hoạch phát triển vùng.

     ​Thứ hai, xác định các bước đi và tiếp cận công nghệ hợp lý cho từng ngành.

    Thứ ba, có chính sách khuyến khích và giúp đỡ thiết thực cho doanh nghiệp Việt tham gia phát triển theo chuỗi giá trị; trước hết là cải tiến, đổi mới doanh nghiệp bằng cách tư vấn chỉ việc để doanh nghiệp chuyển động; có biện pháp thúc đẩy nhận thức và sự đồng thuận đổi mới doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập.

    ​Thứ tư, ở những địa phương phát triển nhanh đội ngũ doanh nghiệp CNHT, Nhà nước nên thiết lập ra Trung tâm nghiên cứu ứng dụng theo hình thức công - tư để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa có điều kiện tham gia vào hoạt động sáng tạo.

Vũ Đức Quyết - Giám đốc Sở Công thương Bắc Ninh